Ngũ bội tử là gì? Ngũ bội tử có tác dụng gì? Công dụng của ngũ bội tử

Ngũ bội tử là vị thuốc có nguồn gốc đặc biệt từ những túi trên thân cây muối do loài sâu có tên là ngũ bội tử gây ra. Ngũ bội tử là chỗ sần sùi ở cành, lá, thân ở thân cây diêm phu hoặc cây muối. Trong y học cổ truyền, ngũ bội tử được dùng để chữa ho ra máu, ho lâu ngày, ho có đờm, nôn ra máu, chứng lòi dom, di hoạt tinh, tiêu chảy,… Vậy ngũ bội tử là gì? Ngũ bội tử có tác dụng gì? Ngũ bội tử chữa bệnh gì? Không phải ai cũng biết về công dụng của ngũ bội tử, vì vậy để hiểu rõ hơn về công dụng của ngũ bội tử, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu chi tiết hơn qua bài viết dưới đây.

Ngũ bội tử là gì?

Ngũ bội tử thuộc họ đào lộn hột Anacardiaceae, có tên khoa học là Schlechtendalia sinensis Bell, tên dược liệu là Galla sinensis. Ngoài ra, ngũ bội tử còn được gọi với nhiều tên gọi khác như bầu bí, bách trùng thương, bơ pật, văn cáp,…

Hình ảnh ngũ bội tử

Ngũ bội tử có tác dụng gì?
Ngũ bội tử có tác dụng gì?

Cây muối là loại cây gỗ nhỏ với chiều cao từ 2 – 8m.

Lá mọc so le nhau, lá dạng kép lẻ, gồm khoảng 7 – 14 lá chét. Các cuống lá chung có rìa hình cánh với các lông ngắn màu nâu nhạt. Các lá chét hình trứng, không cuống, mép có răng cưa to và thô, dài 5-14cm, rộng 2,5-9cm.

Hoa mọc thành cụm ở đầu cành, hình chùy, dài 20-30 cm, hoa nhỏ và màu trắng sữa. Quả hạch có màu vàng cam đỏ và mỗi quả chỉ chứa 1 hạt. Cây muối thường ra hoa vào khoảng tháng 8 – 9 và thời kỳ cho quả tháng 10 hàng năm.

Các cành non và cuống lá của loại cây này sẽ xuất hiện những chỗ bị sùi lên do bị một giống sâu đục dài từ 3-6 cm và có nhiều hình dạng hoặc có khi giống như quả trứng nhỏ, khi thì có nhiều nhánh. Bên trên mặt có lớp lông ngắn mịn màu xám nhạt với những đốm màu đỏ nâu. Khi bẽ ra sẽ thấy thành dày 1-2mm, cứng bóng như sừng, bên trong là những sợi lông nhỏ màu trắng như sợi len và các mảnh của sâu.

Mô tả dược liệu

Ngũ bội tử có 2 loại, dược liệu có dạng túi hình trứng gọi là đỗ bội và hình củ ấu gọi là giác bội, phân nhánh nhiều hay ít, nguyên, vỡ đôi hay vỡ ba.

  • Đỗ bội: Có hình thoi hoặc hình trứng, dạng nang dài 2.5-9 cm và đường kính 1.5-4 cm. Mặt ngoài dược liệu có màu nâu xám, hơi có lông tơ mềm, chất cứng, giòn, dễ gãy vụn. Mặt gãy có dạng chất sừng, bóng, dày 0.2-0.3cm, bề mặt bên trong phẳng và tròn. Khoang rỗng có chứa xác của ấu trùng, màu nâu đen, chất bột màu xám bài tiết ra, vị se, mùi đặc biệt.
  • Giác bội: Có hình củ, dạng sừng, phân nhánh, không đều và mặt ngoài có lông tơ mềm rõ rệt, thành tổ tương đối mỏng.

Vào khoảng tháng 5-6, những con sâu ngũ bội tử (con cái) từ những cây trung gian đến cây muối hay diêm phụ mộc. Sau đó những con sâu tìm chích vào lá và cành non của cây này và đẻ trứng. Có thể do kích thích tố đặc biệt của trứng và sâu non, các tế bào của cây phát triển đặc biệt bất thường thành ngũ bội tử.

Khu vực phân bố

Nơi nào có cây muối nơi đó có ngũ bội tử, chúng chỉ xuất hiện vào mùa hè ấm áp. Cây muối phân bố và được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi nước ta, cây này được gọi là cây muối vì nó có vị mặn.

Trên thế giới, ngũ bội tử được tìm thấy nhiều ở Nhật bản, Trung Quốc như Vân Nam, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây,…

Ở nước ta, ngũ bội tử xuất hiện nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc và một số tỉnh miền Trung như Sơn La, Bắc Giang, Yên Bái, Hòa Bình, Quảng Nam, Lâm Đồng,…

Thu hái, chế biến – Ngũ bội tử có tác dụng gì? 

Dược liệu ngũ bội tử thường được thu hoạch vào tháng 9 hàng năm. Dược liệu sau khi thu hoạch về đem hấp với nước sôi trong 3 – 5 phút để giết chết con sâu rồi đem phơi khô, bảo quản sử dụng dần.

Trước đây, mỗi năm nước ta có thể sản xuất đến 30 – 40 tấn để xuất khẩu, nhưng sau chiến tranh, số lựng sản xuất giảm sút và chưa được phục hồi đúng mức.

Thành phần hóa học

Vị thuốc ngũ bội tử ở nước ta có thành phần hóa học giống như vị thuốc ngũ bội tử ở Trung Quốc.

Ngũ bội tử Việt Nam có chất tan trong nước gồm 43.20% tanin, 13.20% không tannin, 30.13% chất không tan và 13.47% độ ẩm. Bên cạnh đó, ngũ bội tử Trung Quốc có chất tan trong nước gồm 42.5% tannin, 10% không tannin, 34.23% chất không tan và 13.27% độ ẩm.

Tỷ lệ tannin của vị thuốc ngũ bội tử Việt Nam là 50%, còn các loại tốt lên đến 60 – 70% và thậm chí là 80% khi đã trừ đi độ ẩm. Ngoài ra, tannin trong vị thuốc này còn được gọi là axit galotanic, thủy phân axit sẽ cho axit galic.

Ngoài ra, dược liệu ngũ bội tử còn có chứa axit galic tự do, chất béo chiếm 2 – 4%, tinh bột và nhựa.

Tác dụng dược lý – Ngũ bội tử có tác dụng gì?

Trong đông y ngũ bội tử có tác dụng gì?

Theo đông y, vị thuốc ngũ bội tử có vị đắng, chua, mặn, có tính bình nên được quy vào 4 kinh can, thận, đại trường và phế. Vị thuốc ngũ bội tử có tác dụng chữa bệnh trĩ chảy máu, đi tiêu ra máu, nôn ra máu, tiêu chảy lâu ngày, lỵ lâu ngày, di tinh, hoạt tinh, băng lậu hạ huyết, ho lâu ngày, ngực nóng ho có đờm, mụn độc, nhọt độc, điều trị các vết loét trong miệng, giải độc, đổ mồ hôi,…

Trong y học hiện đại ngũ bội tử có tác dụng gì?

  • Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy vị thuốc ngũ bội tử có tác dụng giảm đau và chống viêm, đây có thể là một loại thuốc đầy triển vọng để giảm đau và điều trị viêm.
  • Axit gallic trong dược liệu có tác dụng ngăn ngừa ung thư chống lại với nhiều loại tế bào ung thư. Ngoài ra, một nghiên cứu cho thấy Axit gallic có vai trò tiềm năng trong việc điều trị ung thư dạ dày.
  • Trong ba mô hình bệnh nấm da ở chó, dung dịch từ vị thuốc ngũ bội tử đã cải thiện đáng kể trong việc điều trị nấm da và tổn thương da. Nó có tác dụng diệt nấm hiệu quả đạt hơn 85% vào ngày thứ 14 sau khi điều trị bằng dung dịch ngũ bội tử.
  • Trong mô hình tiêu chảy do dầu thầu dầu gây ra ở chuột, khi uống dung dịch ngũ bội tử cho thấy hoạt động chống tiêu chảy đáng kể.
  • Chiết xuất ngũ bội tử là một chất ức chế hLDH-A mạnh với khả năng ức chế đáng kể sự gia tăng của các tế bào ung thư vú ở người.
  • Ngũ bội tử có khả năng điều trị cho tổn thương phổi do thuốc lá gây ra.
  • Nước sắc từ dược liệu có khả năng tiêu diệt và ức chế một số loại vi khuẩn như bạch hầu, kiết lỵ, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu vàng, virus cúm, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, phế cầu khuẩn và chủng virus PR8.
  • Độc tính: Theo thí nghiệm trên súc vật, nếu tiêm thuốc ở liều cao dưới da có thể gây thần kinh kích động, khó thở, hoại tử tại chỗ và tử vong trong 24 giờ.

Những bài thuốc chữa bệnh từ ngũ bội tử

Cải thiện các triệu chứng bệnh trĩ

Lấy 500g ngũ bội tử đã tán vụn và 1000ml cồn 52.5%, đem dược liệu ngâm với cồn, bảo quản trong lọ kín và ngâm trong khoảng 30 – 60 ngày. Tiếp đó lọc lấy nước, nấu sôi để vô trùng, trước khi dùng nên vệ sinh sạch vùng hậu môn và chích trực tiếp vào búi trĩ. Tuy nhiên, để áp dụng bài thuốc này nên tuân theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

Chữa xuất tinh sớm – Ngũ bội tử có tác dụng gì?

Lấy 20g ngũ bội tử, 20g hạt tiêu, 30g khổ sâm và 30g địa phu tử, đem sắc lấy nước uống mỗi ngày.

Chữa lỵ ra máu lâu ngày

Lấy 40g ngũ bội tử và 20g phèn phi (phèn chua), đem cả 2 dược liệu tán thành bột rồi trộn với hồ vo thành viên hoàn. Mỗi ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần dùng 2 – 8g và uống cùng với nước cơm.

Trị sẹo do bỏng

Lấy 8 – 100g ngũ bội tử, 250ml giấm đen, 18g mật ong và 1 con ngô công tán thành bột. Đem các dược liệu nấu thành cao, rồi bôi vào lớp vải đen, dán lên vùng bị sẹo, cứ 3 – 5 ngày thì thay 1 lần cho đến khi sẹo liền lại.

Chữa lòi dom, sa tử cung

Lấy một ít ngũ bội tử sắc lấy nước rửa.

Còn đối với trẻ em bị lòi dom thì lấy ngũ bội tử và địa du với liều lượng bằng nhau, đem tán mịn và dùng 1 ít uống với nước cơm.

Chữa xuất huyết đường tiêu hóa trên

Lấy 6g ngũ bội tử sắc với nước, đun đến khi nước cạn còn 100ml, chia làm 3 lần uống trong ngày. Đối với bệnh nhân không nôn, nên ăn những thức ăn lỏng và truyền máu, còn trường hợp còn lại thì nên nhịn ăn.

Những lưu ý khi sử dụng ngũ bội tử

  • Ngũ bội tử khác với ngũ vị tử nên hãy phân biệt khi sử dụng. Ngũ vị tử thường được sử dụng để chữa ho và an thần, trong khi ngũ bội tử được sử dụng để điều trị tiêu chảy, lòi dom, làm lành vết thương.
  • Trong trường hợp thực tả, thấp nhiệt và ngoại cảm không nên dùng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Liên hệ
Liên hệ