Cây tắc kè đá có tác dụng gì? Cây tắc kè đá ngâm rượu có tác dụng gì?

Cây tắc kè đá hay còn được gọi là cốt toái bổ, là một loại cây mọc hoang khắp núi đá, trên cây hoặc dọc suối vùng rừng núi nước ta. Cây tắc kè đá được dùng để chữa đau nhức xương khớp, va chạm chấn thương, tai ù, đau răng, chảy máu chân răng, sai khớp, bong gân, thận hư, thần kinh suy nhược,… Vậy cây tắc kè đá là cây gì? Cây tắc kè đá có tác dụng gì? Cây tác kè đá chữa bệnh gì? Củ tắc kè đá ngâm rượu có tác dụng gì? Để biết chi tiết hơn về công dụng của cây tác kè đá, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu chi tiết hơn qua bài viết sau đây.

Cây tắc kè đá là cây gì?

Cây tắc kè đá thuộc họ dương xỉ Polypodiaceae, có tên khoa học là Drynaria fortunei (Kuntze ex Mett.) J.Sm. Ngoài ra, cây tắc kè đá còn được gọi với nhiều tên gọi khác như cây tổ phượng, cốt toái bổ, cây tổ rồng, tổ diều, hộc huyết, thu mùn, hầu khương,…

Hình ảnh cây tắc kè đá

Cây tắc kè đá có tác dụng gì?
Cây tắc kè đá có tác dụng gì?

Cây tắc kè đá là một dạng cây dương xỉ, sống lâu năm, có thân và rễ dẹp, trông tựa củ gừng, mọc bò dài, mọng nước, có lông màu vàng nâu, phần thân rễ được bao phủ nhiều vảy màu vàng, bóng, mẫm và dày. Cây sống phụ sinh trên những thân cây lớn như cây đa, cây si,… Mọc ở hốc đá hoặc ở những đám rêu ẩm ướt.

Cây tắc kè đá có hai loại lá:

  • Loại đầu tiên là loại lá bất thụ (loại lá không sinh sản) màu nâu, không có cuống lá. Phiến lá hình trái xoan ôm lấy thân, gốc lá hình tim, mép lá có răng cưa nhọn, dài khoảng 5 – 8cm, rộng 3 – 6cm, bao phủ lấy thân rễ.
  • Loại lá thứ hai là loại lá hữu thụ (loại lá sinh sản) có xẻ thùy sâu, màu xanh nhẵn. Lá đơn mọc đối có hình dạng giống lá kép lông chim, cuống lá có thùy thuôn dài khoảng 4-7cm và dài 10-30 cm. Lá có khoảng 7-12 cặp lá hình lông chim, có gân ở mặt dưới lá và có các túi bào tử xếp thành một hàng ở mỗi bên gân chính, túi bào tử hình trái xoan có màu vàng nhạt và không có áo tử nang.

Mô tả dược liệu cốt toái bổ

Vị thuốc cốt toái bổ là đoạn thân rễ dẹt, cong queo, phân nhánh nhiều, được bao phủ dày đặc bởi lớp lông dạng vảy màu nâu đến màu nâu tối với kích thước dài 5-15 cm, rộng 1-2 cm và dày khoảng 3 mm, phủ nhiều lông có vảy màu nâu đến nâu sẫm, khi đốt hết lông dược liệu sẽ có màu nâu tối. Mặt trên và hai bên thân dược liệu có các vết sẹo tròn lồi hoặc lõm do các vết tích của gốc lá để lại và ít khi còn rễ hình sợi. Chất cứng, mặt cắt ngang màu nâu, có những đốm vàng xếp thành vòng, khi nếm thử dược liệu có vị nhạt và hơi se.

Khu vực phân bố

Ở nước ta, cây cốt toái bổ thường xuất hiện ở một số tỉnh vùng núi như Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Hòa Bình, Nghệ An,… Hiện nay dược liệu tự nhiên rất ít, vì vậy loại thực vật này đã có tên trong Sách đỏ Việt Nam và đang cần được bảo tồn. Ngoài ra, cây cốt toái bổ còn xuất hiện ở Lào, miền Nam và miền Trung Trung Quốc.

Cây thường mọc trên những đám rêu, trên các hốc đá hoặc sống phụ sinh trên các thân cây lớn ở các hang núi đá vôi, ưa ẩm, mọc hoang ở dọc suối, trên cây hoặc ở khắp núi đá vùng rừng núi nước ta.

Người ta thường sử dụng phần thân rễ để làm thuốc chữa bệnh. Dược liệu được thu hái quanh năm, nhưng thời điểm tốt nhất để thu hoạch là vào khoảng tháng 4 – 9 hàng năm.

Thu hái, chế biến

Dược liệu sau khi thu hái về đem rửa sạch đất cát, loại bỏ lá rồi đem rửa sạch, sau đó cắt thành từng lát nhỏ, đem phơi hoặc sấy khô và bảo quản sử dụng dần. Hoặc có thể bào chế bằng cách rửa sạch dược liệu, cạo bỏ lông, cắt mỏng, phơi khô, khi dùng có thể tẩm mật ong hoặc rượu rồi đem sao đến qua sử dụng dần. Hoặc có thể lấy cát sao khô rồi cho vị thuốc cốt toái bổ đã làm sạch vào và sao cho đến khi dược liệu chuyển sang màu vàng xám, phồng lên thì lấy ra loại bỏ cát và để nguội đập cho sạch lông.

Thành phần hóa học

Phần thân rễ của dược liệu cốt toái bổ có chứa 25% – 34.89% tinh bột và Hesperidin (CA, 1970, 73, 11382j) – Theo Trung Quốc thực vật chí, 1961, 447.

Dựa trên những nghiên cứu gần đây cho thấy, các thành phần trong vị thuốc cốt toái bổ có tổng cộng 369 hợp chất. Trong đó chứa các chất có khả năng chống oxy hóa như Flavonoid, Axit Phenolic, Proanthocyanidin, Lignans,Triterpenoids và trong đó có ít nhất là 50 hợp chất không phân tách.

Tác dụng dược lý – Cây tắc kè đá có tác dụng gì?

Trong đông y cây tắc kè đá có tác dụng gì?

Theo đông y, vị thuốc cốt toái bổ có vị đắng, tính ấm, không độc nên được quy vào 2 kinh can và thận. Vị thuốc cốt toái bổ có khả năng bổ thận, chữa chấn thương do té ngã, dập xương, đau xương, đau lưng mỏi gối, đau nhức lưng, sai khớp, bong gân, tai ù, đau răng, chảy máu chân răng, thận hư yếu, tiêu chảy kéo dài, cầm máu, giảm đau,…

Dược liệu có thể dùng uống trong hoặc đắp ngoài, liều dùng mỗi ngày là 6 – 12g, nếu dùng bôi ngoài thì không có liều lượng. Ngoài ra, có thể dùng dược liệu dạng sắc thuốc, ngậm rượu hoặc giã nát rồi đắp lên vết thương.

Trong y học hiện đại cây tắc kè đá có tác dụng gì?

Tác dụng ngăn ngừa loãng xương

Dựa trên hoạt động của polysaccharide đồng nhất (DFPW) được phân lập và tinh chế từ thân rễ khô của dược liệulên xương chuột đã được cắt bỏ buồng trứng (OVX). Có thể kết luận rằng DFPW uống hàng ngày sẽ là một loại thuốc hữu ích để điều trị chứng loãng xương sau mãn kinh ở chuột, tương đương với raloxifene. Chức năng này liên quan đến tác động của DFPW đối với sự cân bằng của quá trình tạo xương và tái tạo khả năng hấp thu của xương. Vì vậy, tình trạng mất xương ở chuột OVX có thể được giảm bớt, điều này có nghĩa là DFPW có thể ngăn ngừa loãng xương.

Tác dụng diệt vi khuẩn đường miệng – Tắc kè đá có tác dụng gì?

Chloroform có trong dược liệu cốt toái bổ kết hợp với ampicillin hoặc gentamicin giết chết 100% hầu hết các vi khuẩn được thử nghiệm trong vòng 3 – 4 giờ. Các phát hiện cho thấy rằng chất chloroform này có tác dụng kháng khuẩn và hiệp đồng như một loại kháng sinh chống lại các mầm bệnh đường miệng.

Tác dụng chữa bong gân, tụ máu

Vào năm 1963, tại Quân y viện 6 (Tây Bắc) dùng dược liệu cốt toái bổ điều trị bong gân, tụ máu bằng cách: Lấy tắc kè đá tươi sau khi thu hái về gọt bỏ vỏ, cạo sạch lông, loải bỏ lá, đem rửa sạch và giã nhỏ rồi cho một ít nước vào, gói vào lá nướng cho mềm và đắp lên những vết đau (những trường hợp gãy xương hở không nên áp dụng phương pháp này), thay thuốc nhiều lần trong ngày. Nếu không đủ dược liệu, có thể lấy bã thuốc ra, cho thêm ít nước rồi băng lại, thường chỉ sau 3 ngày đến 1 tuần sẽ thấy tình trạng bệnh được thuyên giảm và ra viện, trong khi đớ nếu áp dụng phương pháp khác có khi kéo dài hàng tháng mà không đỡ.

Ngoài ra, cây tắc kè đá còn có những công dụng khác như:

  • Dựa trên thực nghiệm được thực hiện trên chuột lang, dược liệu cốt toái bổ có tác dụng làm giảm độc tính của Kanamycin sulfat đối với tai trong.
  • Chữa ù tai, suy giảm chức năng nội tiết và tiêu chảy kéo dài.
  • Dược liệu có tác dụng giúp giảm đau, an thần, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, ngăn ngừa lipit máu cao,…

Những bài thuốc chữa bệnh từ cây tắc kè đá

Chữa chấn thương phần mềm, gãy xương kín

Lấy cốt toái bổ tươi, trắc bách diệp tươi, lá sen tươi và quả bồ kết tươi với lượng bằng nhau. Đem các dược liệu tán nhỏ, mỗi lần dùng 12g hãm với nước sôi uống, hoặc giã nát đắp ngoài, mỗi ngày dùng 2 lần.

Hoặc lấy cốt toái bổ, bằng sa, huyết kiệt, một dược, đương quy, địa miết trùng, tục đoạn, đại hoàng, nhũ hương và đồng tự nhiên với lượng bằng nhau, đem các dược liệu tán thành bột mịn rồi trộn với Vaseline và bôi lên vùng đau nhức.

Chữa phong thấp thuộc huyết -Tắc kè đá có tác dụng gì?

Lấy 40g cốt toái bổ, 40g ô dược, 40g xích đồng nam, 40g cỏ xước, 40g rễ bưởi bung, 40g tiền hồ, 40g bạch đồng nữ, 60g rễ chiên chiến, 60g bạch hoa xà thiệt thảo, 80g rễ rung rúc và 100g vỏ chân chim. Đem các dược liệu nấu thành cao đặc, tiếp đó ngâm với 2 lít rượu trắng 40 độ, ngâm trong khoảng 3 ngày, sau đó chắt lấy dịch trong, mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần dùng khoảng 30ml.

Chữa phong thấp do huyết – Tắc kè đá có tác dụng gì?

Chuẩn bị:

  • 160g cốt toái bổ đã cạo sạch lông, cắt nhỏ, tẩm mật và phơi khô.
  • 160g hy thiêm đã chưng với mật và rượu
  • 160g rễ cỏ xước tươi rửa với rượu
  • 160g vỏ chân chim sao vàng
  • 160g thạch hộc rửa với rượu, chưng kỹ, phơi khô
  • 40g lá ké đầu ngựa phơi trong bóng râm
  • 240g cẩu tích tẩm rượu nấu với nước muối, phơi khô

Đem các dược liệu tán thành bột mịn, trộn với mật vo thành viên hoàn, mỗi lần dùng lấy 8 – 12g thuốc uống cùng với nước gừng hoặc rượu.

Chữa còi xương ở trẻ, chân tay tê yếu, lưng gối mỏi ở người cao tuổi

Lấy 10g tắc kè đá, 10g thiên niên kiện, 10g đỗ trọng, 4 – 6g cao hổ cốt và 1 lít rượu trắng. Đem các dược liệu ngâm với rượu trong khoảng 10 – 15 ngày, mỗi lần uống 10 – 15ml, uống trước khi ăn, mỗi ngày uống 2 lần.

Chữa thấp khớp thuộc thể nhiệt

Lấy 12g tắc kè đá, 12g hy thiêm, 12g độc hoạt, 12g uy linh tiên, 12g rau má, 12g thạch cao, 12g thiên hoa phấn, 12g thổ phục linh, 12g kê huyết đằng, 12g đan sâm, 12g sinh địa, 12g khương hoạt và 4g cam thảo, đem sắc lấy nước uống mỗi ngày.

Chữa suy nhược cơ thể ở người cao tuổi, gãy xương lâu lành

Lấy 12g tắc kè đá, 12g cẩu tích, 12g mẫu lệ, 12g bạch truật, 12g đương quy, 12g hoàng kỳ, 12g tục đoạn, 8g thiên niên kiện, 16g đảng sâm, 16g hoài sơn và 16g ba kích, đem các dược liệu sắc thành thuốc uống.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Liên hệ
Liên hệ